Quintel Blogger theme

A free Premium Blogger theme.

Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013

THUỐC DỊ ỨNG: KHÁNG HIS-TAMIN VÀ THUỐC THÔNG MŨI


THUỐC DỊ ỨNG: KHÁNG HIS-TAMIN VÀ THUỐC THÔNG MŨI

Mục đích
Điều trị các triệu chứng dị ứng; những chất này có thể làm giảm mẩn ngứa.
Allerest, Chlor-Trimeton, Sinarest, Actifed, Allegra, Claritin, Benadryl, Sudafed, và Dimetapp nằm trong số rất nhiều loại thuốc trên thị trường dùng để điều trị các triệu chứng dị ứng nhẹ. Chúng tương tự như các hợp chất chống cảm lạnh , nhưng chúng thường ít khi có chứa các chất giảm đau và sốt như aspirin, acetaminophen, naproxen, ibuprofen hoặc ketoprofen. Thường thì những hợp chất thuốc này có chứa một chất kháng histamin và một chất thông mũi, và đôi khi cả acetaminophen. Những thành phần này có thể xác định được trên nhãn thuốc. Nếu bạn thích nghi với một trong những loại thuốc này và thấy đỡ, bạn có thể tiếp tục dùng trong vài tuần (chẳng hạn, qua mùa sốt vụ hè) mà không cần tới gặp bác sĩ. Tuy nhiên, các chất thông mũi dạng nhỏ hoặc xịt qua mũi cần được dùng thận trọng và chỉ trong thời gian ngắn.

Đọc kỹ nhãn thuốc
Chất thông mũi thường là pseu-doephedrin hoặc phenyl-propanolamin. Nếu tên hợp chất không quen, thì hậu tố "-ephrin" hoặc "-edrin" thường chứng tỏ là chất thông mũi. Chất kháng hista-min thường là chlorpheniramin, diphenhydramin, hoặc brompheni-ramin. Nếu không, chất kháng his-tamin có thể xác định được trên nhãn thuốc với hậu tố "-amin".

Liều dùng
Sử dụng theo chỉ dẫn của sản phẩm. Giảm liều dùng nếu bạn thấy có tác dụng phụ, hoặc thử hợp chất khác.

Tác dụng phụ
Những tác dụng phụ này thường không đáng kể và sẽ mất đi sau khi dừng sử dụng thuốc hoặc giảm liều. Khó chịu và mất ngủ thường chứng tỏ dùng quá nhiều chất thông mũi. Buồn ngủ thường là do quá nhiều chất kháng histamin. Nếu bạn có thể tránh được những chất mà bạn bị dị ứng, thì việc dùng thuốc là rất tốt. Ớ một mức độ nào đó, các thuốc đều làm suy yếu các chức năng của bạn. Tuy nhiên, những chất kháng histamin "không gây buồn ngủ" mới hơn, như Allegra hoặc Claritin, ít gây buồn ngủ và là một sự tiến bộ trong điều trị. Hãy lưu ý đến những thuốc này, đặc biệt nếu bạn đang lái xe hoặc dùng các thiết bị nặng.
                                                                        
Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn


Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2013

XI-RÔ IPECAC

XI-RÔ IPECAC

Mục đích
Để kích thích nôn mửa nếu có người bị ngộ độc thực phẩm hoặc thuốc. Nôn mửa sẽ làm dạ dày không còn chứa chất độc vốn chưa ngấm kịp. Xi-rô ipecac đặc biệt có ích nêu bạn có trẻ nhỏ.
Không dùng ipecac hoặc chất tương tự để kích thích nôn mửa nếu như chất độc nuốt phải là một hợp chất có nguồn gốc dầu mỏ hoặc một axít hay kiềm mạnh. Hãy gọi ngay Trung tâm Kiểm soát Chất độc.
Tốt hơn cả là cất các hóa chất độc ở xa tầm tay trẻ em thay vì phải sử dụng ipecac. Khi bạn mua ipecac, hãy dùng nó như một thứ nhắc bạn nhớ kiểm tra các chất độc mà trẻ có thể lấy được và chuyển tới nơi an toàn. Nếu con bạn nuốt phải thứ gì đó, càng làm sạch dạ dày sớm thì vấn đề càng đỡ, trừ những ngoại lệ kể trên. Không có thời gian để mua ipecac sau khi con bạn đã nuốt phải chất độc, do đó bạn nên trữ sẵn phòng khi cần dùng đến.

Liều dùng
Một thìa canh (15 ml) ipecac có thể là đủ cho một trẻ nhỏ; 2 đến 4 thìa cà phê (10-20 ml) là mức cần thiết cho trẻ lớn hơn và người lớn. Theo đúng liều dùng cùng với nước ấm, cho tới khi nôn ra. Hãy tiếp tục liều dùng sau 15 phút nếu bạn không thấy có kết quả gì.

Tác dụng phụ
Đây là một loại thuốc rất khó chịu, nhưng không nguy hiểm trừ khi tình trạng nôn mửa làm cho chất độc chui vào khí quản dẫn xuồng phổi. Điều này có thể gây viêm phổi, vì thế đừng kích thích nôn mửa đối với nạn nhân bị bất tỉnh hoặc gần bất tỉnh. Không kích thích nôn mửa đối với các chất dễ bay hơi, chẳng hạn các hợp chất dầu mỏ vì có thể xộc xuống phổi và gây hại. Chúng tôi tin rằng đây có thể là một loại thuốc quan trọng, và thậm chí có tác dụng cứu mạng trong một số trường hợp. Tuy nhiên, không phải bác sĩ nào cũng đồng ý như vậy, vì thế hãy tham khảo ý kiến bác sĩ về những nguy cơ cùng lợi ích của nó.
                                                                       
Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn



KEM BÔI DA VÀ DUNG DỊCH LÀM ẨM DA

Kem bôi da và dung dỊch lÀm Ẩm da
Người ta ít nói về những vật liệu nhân tạo - chẳng hạn Lubriderm, Vaselin, Alpha-Keri - dùng bôi lên da nhằm tạm thời cải thiện vẻ ngoài của da hoặc làm chậm quá trình lão hóa da. Nhiều khẳng định về các sản phẩm như thế không hề có cơ sở khoa học và những lợi ích lâu dài không được chứng minh.
Nhiều khi trên thực tế da khô có thể gây ra các triệu chứng, do đó trở thành một vấn đề y học. Hãy nhớ rằng tắm hoặc tiếp xúc với chất tẩy có thể càng làm da khô. Giảm tần suất tắm, đeo găng khi làm việc với các chất tẩy, và những biện pháp tương tự khác quan trọng hơn là sử dụng bất kỳ kem hoặc thuốc bôi da nào.

Các loại kem và dung dịch làm ẩm da có thể làm da bạn cảm thấy dễ chịu hơn; đây là tác dụng "làm dịu". Hãy sử dụng những loại kem có thương hiệu. Chúng không có tác dụng phụ, ngoại trừ một vài trường hợp hiếm hoi bị dị ứng với lanolin trong một vài sản phẩm.
                                                                                              
Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn

THUỐC GIẢM ĐAU NGOÀI DA

THUỐC GIẢM ĐAU NGOÀI DA
Soda (bicarbonat natri,NaHC03) là một hóa chất hữu ích trong gia đình. Nó có 3 công dụng y học cơ bản:
§        Là một dung dịch yếu, có tác dụng làm dịu da hoặc giảm ngứa; do đó, nó rất có ích với nhiều trường hợp từ cháy nắng, sơn ăn ,thủy đậu (Đây là công dụng chúng tôi nói đến ở đây).
§        Là một dung dịch mạnh, nó hút chất dịch và giảm sưng tấy vết thương, đồng thời ngâm và làm sạch vết thương.
§        Nếu uống qua miệng, nó có tác dụng như chất giảm độ chua dạ dày và có thể giúp giảm ợ nóng hoặc rối loạn dạ dày. Vì natri trong sođa hấp thụ vào cơ thể, nên chúng tôi khuyến nghị dùng loại thuốc giảm độ chua khác.

Liều dùng
Để làm dịu da, hãy dùng từ 2 thìa canh đến nửa cốc (30-120 ml) pha với nước nóng để tắm. Thấm da nhẹ nhàng sau khi tắm và để cho dung dịch khô dần trên da. Đều đặn làm như vậy khi cần thiết.

Tác dụng phụ
Không có ảnh hưởng gì chừng nào chỉ để soda ở ngoài da.
         
Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn



CÁC THUỐC HÃM AXÍT DẠ DÀY

CÁC THUỐC HÃM AXÍT DẠ DÀY
Cimetidin (Tagamet), famotidin (Pepcid AC), ranitidin (Zantac) và nizatidin (Axit AR) là những loại thuốc được kê đơn sử dụng rộng rãi cho chứng loét dạ dày và được phê chuẩn sử dụng ngoài thị trường với liều thấp hơn để trị chứng ợ nóng. Thay vì trung hòa axít dạ dày như các thuốc giảm độ chua, chúng có tác dụng kìm hãm quá trình sản xuất axít của cơ thể. Hầu hết mọi người không cần đến những thuốc này, nhưng bạn có thể tính đến chúng nếu các thuốc giảm độ chua không có tác dụng. Nếu bạn uống các thuốc khác, hãy kiểm tra với bác sĩ trước khi uống Tagamet; nó có thể tăng công hiệu của nhiều thuốc khác, trong đó có một số loại trị loãng máu (warfarin), hen suyễn (theophyllin) và động kinh. Pepcid AC có thể tốt hơn một chút về mặt này. Đừng dùng quá liều được chỉ định.
Bác sĩ có thể chỉ định các loại thuốc mạnh hơn, gọi là các thuốc ức chế bơm proton, nếu cần. Những thuốc này, chẳng hạn Prilosec, Protonics và Nexium, làm giảm axít dạ dày hơn hẳn các loại thuốc cũ, nhưng phần lớn mọi người sẽ không cần đến chúng. Nhìn chung chúng dễ uống và Prilosec hiện rất sẵn mà không cần đơn thuốc
              
Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn

THUỐC GIẢM ĐỘ CHUA DẠ DÀY

THUỐC GIẢM ĐỘ CHUA DẠ DÀY

Mục đích
Giảm đau hoặc ngăn ngừa rối loạn dạ dày, ợ nóng, và bệnh dạ dày - thực quản.

ThuỐc GIẢM đỘ chua dẠ DÀY không HẤP thỤ
Maalox, Gelusil, và Mylanta là những ví dụ về các loại thuốc giảm độ chua của dạ dày không hấp thụ. Chúng là một thành phần quan trọng trong tủ thuốc gia đình. Chúng giúp trung hòa axít dạ dày và do đó làm giảm ợ nóng, đau do loét, tức hơi, và rối loạn dạ dày. Vì chúng không bị cơ thể hấp thụ, nên chúng thường không làm rối loạn sự cân bằng axít-bazơ của cơ thể và hoàn toàn an toàn.
Hầu như tất cả những loại thuốc dạ dày này đều có sẵn ở dạng lỏng hoặc viên. Với phần lớn các mục đích, dạng thuôc lỏng ưu việt hơn. Nó bao phủ diện tích bề mặt của thực quản và dạ dày nhiều hơn so với dạng thuốc viên. Trên thực tế, nếu không nhai kỹ, thuốc viên có thể chẳng tác dụng gì. Tuy nhiên, khi làm việc hoặc vui chơi, một chai thuốc có thể khá vướng víu, còn vài viên thuốc trong túi áo sơ mi hoặc túi xách có thể tiện lợi hơn khi phải uống liều thuốc vào giữa ngày.

ThuỐc GIẢM đỘ chua dẠ DÀY CÓ HẤP thỤ
Soda, Alka-Seltzer, Rolaids và Turns đều có chứa chất giảm độ chua dạ dày có thể hấp thụ. Thành phần chính trong những chế phẩm này là thuốc muối bicarbonat natri (với Alka-Seltzer, dạng soda), dihydrox-yaluminum carbonat natri (Rolaids), hoặc calci carbonat (Turns). Những thuốc này là những chất trung hòa axít mạnh hơn so với các loại thuốc không hấp thụ, và chúng có dạng viên khá tiện lợi. Calci carbonat cũng là một nguồn bổ sung calci rất tốt và có thể giúp ngăn ngừa chứng loãng xương.

Đọc kỹ nhãn thuốc
Các loại thuốc dạ dày không hấp thụ có chứa magiê hoặc nhôm hoặc cả hai. Như một quy luật chung, magiê gây ra chứng tiêu chảy và nhôm gây ra táo bón. Những nhãn thuốc khác nhau là những hỗn hợp các muối của hai kim loại này và có khác nhau chút ít, được chế tạo nhằm tránh cả tiêu chảy và táo bón. Một vài nhãn thuốc còn chứa cả calci, có thể gây táo bón một chút.
Những sản phẩm khác nhau có vị không giống nhau. Trong khi có một số khác biệt về công hiệu, nhưng hầu hết mọi người đều chọn loại thuốc dạ dày có vị mà họ uống được và không làm rối loạn ruột. Hãy thử những nhãn thuốc khác nhau cho tới khi bạn thấy hài lòng.

Liều dùng
Liều dùng tiêu chuẩn cho người lớn là 2 thìa canh (30 ml) hoặc 2 viên nhai kỹ. Hãy sử dụng liều dùng của người lớn cho trẻ em từ độ tuổi 6-12, và 1/4 liều của người lớn cho trẻ từ 3-6 tuổi. Tần suất liều dùng tùy thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh. Với chứng rối loạn dạ dày hoặc ợ nóng, 1 hoặc 2 liều là đủ. Với chứng viêm dạ dày, có thể cần tới vài liều một ngày trong vài ngày. Với trường hợp loét, có thể cần uống thuốc liền 6 tuần hoặc hơn, với tần suất đều đặn mỗi giờ. Trường hợp này cần được bác sĩ giám sát.
Nếu bạn định sử dụng soda như một loại thuốc dạ dày, hãy uống 1 thìa cà phê (5 ml) pha với một ly nước đều đặn 4 giờ 1 lần - nhưng chỉ nên thỉnh thoảng. Soda hấp thụ được và có thể làm rối loạn cân bằng axít-bazơ của cơ thể.

Tác dụng phụ
Nói chung, vấn đề duy nhất là tác dụng đối với vận động của ruột. Maalox có xu hướng làm lỏng phân, Mylanta và Gelusil ở mức trung bình, còn Aludrox (có nhiều nhôm hơn) có xu hướng gây táo bón. Hấp thụ nhôm vào người có liên quan tới bệnh Alzheimer nhưng điều này chưa thực chắc chắn. Hãy điều chỉnh liều dùng và thay đổi nhãn thuốc khi cần. Hãy kiểm tra vói bác sĩ của bạn trước khi dùng những hợp chất này nếu bạn có bệnh về thận, tim hoặc huyết áp cao. Một số nhãn thuốc có chứa một lượng muối đáng kể và cần tránh dùng với những người có chế độ ăn ít muối. Di-Gel có hàm lượng muôi thấp nhất trong số các nhãn thuốc.
Hãy cẩn thận khi bạn uống soda. Thứ nhất, nó có rất nhiều natri. Nếu bạn bị bệnh tim hoặc huyết áp cao hoặc phải ăn ít muối, bạn có thể gặp rắc rối. Thứ hai, nếu bạn uống soda trong nhiều tháng một cách đều đặn, có một số bằng chứng cho thấy nó có thể dẫn đến tích tụ calci trong thận và do đó làm hư thận. Hãy tham khảo ý kiên bác sĩ trước khi dùng thuốc dạ dày để điều trị các tác dụng phụ của những đơn thuốc khác, chẳng hạn aspirin, naproxen, ibuprofen hay ketoprofen, vì chúng có thể tiềm ẩn một vấn đề nghiêm trọng như viêm loét.
           
Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn