Quintel Blogger theme

A free Premium Blogger theme.

Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013

THUỐC VITAMIN

THUỐC VITAMIN
Việc bổ sung vitamin luôn gây tranh cãi. Trước kia, có lý do về mặt lý thuyết để tin rằng các vita­min bổ sung có thể có ích; nhưng cũng có lý do để tin rằng những lợi ích này có thể chỉ là trên lý thuyết. Những căn bệnh kinh niên do thiếu vitamin (bệnh sco-bút, bệnh tê phù, chứng nứt da vv...) rất hiếm và chỉ xảy ra với những người có chế độ ăn uống không đầy đủ trên mọi phương diện, hoặc những người có bệnh, hoặc uống những thứ thuốc ảnh hưởng đến lượng vitamin tự nhiên. Nghiên cứu trước đây về vitamin chủ yếu chỉ dựa trên chế độ ăn uống và không trực tiếp giải quyết vấn đề các chất bổ sung cho bữa ăn. Nghiên cứu này cho rằng một chế độ ăn cân đối cần cung cấp đủ lượng vitamin và khoáng chất.
Mặt khác, hiện nay người ta biết rằng có những tình huống cụ thể trong đó bổ sung vitamin là thích hợp. Có những nghiên cứu cho thấy rằng các chất bổ sung có thể hữu ích cho những người có chế độ ăn uống "trung bình", ngoài những trường hợp đặc biệt nêu trên. Đây là một tổng kết về những thông tin hiện nay về các chất bổ sung vitamin.
§        Vitamin A: Nhiều nghiên cứu về việc ngăn ngừa một loạt bệnh vẫn chưa có kết luận.
§        Vitamin C: Một nghiên cứu của Canada cho thấy rằng người trên 55 tuổi bổ sung thêm vitamin C (ít nhất 300 mg hằng ngày trong suốt 5 năm) sẽ làm giảm bớt 70% nguy cơ bị đục nhân mắt, nhưng những nghiên cứu khác về nhiều chứng bệnh lại rất đáng thất vọng hoặc chỉ cho thay những lợi ích rất nhỏ.
§        Vitamin D: Hầu hết các bác sĩ nhi khoa khuyến nghị bổ sung vitamin D cho trẻ em bú sữa mẹ.
§        Vitamin E: Một số nghiên cứu cho rằng bổ sung vitamin E (400 đơn vị quốc tế [IU] có thể giảm nguy cơ bệnh tim nhờ ngăn ngừa quá trình oxy hóa cholesterol LDL. Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại rất tiêu cực. Nghiên cứu của Canada về bổ sung vitamin C và bệnh đục nhân mắt cũng tìm hiểu về việc bổ sung vitamin E (400 IU mỗi ngày) và cho thấy nguy cơ đục nhân mắt thấp hơn.
§        Axít folic: Một vài nghiên cứu đã chứng minh rằng việc sử dụng chất bổ sung axít folic (1 mg mỗi ngày) trước và trong giai đoạn đầu mang thai làm giảm đáng kể nguy cơ khiếm khuyết nghiêm trọng của hệ thần kinh ở trẻ. Với vitamin B6 và B12 axit folic có thể giảm khả năng bị đột quỵ bằng cách giảm mức homocystein trong máu. Vì thế, ngày càng có nhiều bác sĩ khuyến khích dùng axít folic và các loại vitamin tổng hợp.
§        Vitamin tổng hợp và khoáng chất: Một nghiên cứu cho thấy rằng sử dụng vitamin tổng hợp và khoáng chất ở người lớn khỏe mạnh trên 65 tuổi làm giảm hơn mọt nửa số ngày ốm đau. Sự bổ sung này bao gồm vitamin A, betacaroten, thiamin, riboflavin, niacin, vitamin B6, axít folic, vitamin B12, vitamin C, vitamin D, vitamin E, sắt, kẽm, đồng, selen, iod, calci, và magiê. Số lượng mỗi vitamin hoặc khoáng chất tương tự như liều lượng hằng ngày được khuyên dùng hiện nay trừ với betacaroten và vitamin E là cao hơn
liều cho phép.
Sử dụng các thuốc bổ sung vita­min cho những mục đích không nói ở trên hoàn toàn tùy ý. Chắc chắn là chúng không gây ra các vấn đề khi dùng đúng liều lượng, nhưng hãy cân nhắc những điều lưu ý dưới đây. Nếu bạn mua các vitamin, những nhãn thuốc rẻ hơn, cũng thường có chất lượng tương tự như những loại được quảng cáo rùm beng.

Liều dùng
Các loại vitamin tổng hợp thường có chứa liều lượng hằng ngày được khuyên dùng đối với mỗi loại vita­min. Những liều lượng khác được nêu ở trên.
Tác dụng phụ
Vitamin A, vitamin D, và vitamin B6 (pyridoxin) có thể gây ra những van đề nghiêm trọng khi uống quá liều. Uống nhiều vitamin C được cho là có liên quan tới các vấn đề về thận trong một vài trường hợp. Những vitamin khác chưa được nghiên cứu, nhưng những tác dụng Phụ nghiêm trọng  rất hiếm thấy.
            
Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn

BĂNG GẠC CO DÃN

BĂNG GẠC CO DÃN

Mục đích
Để điều trị bong gân và các tổn thương tương tự.
Bất kỳ gia đình nào cũng có thời kỳ cần đến băng gạc co dãn (ví dụ Ace), cần cả loại khổ hẹp và khổ rộng. Nếu các vấn đề thường xuyên tái diễn, thì loại băng một miếng được chế tạo riêng cho phần đầu gối và khuỷu tay đôi khi tiện lợi hơn. Tất cả những loại băng gạc này cơ bản có tác dụng hỗ trợ nhẹ nhàng, nhưng cũng có tác dụng làm giảm sưng tấy. Sự hỗ trợ này chỉ ở mức tối thiểu và phần cơ thể ấy vẫn có thể tổn thương lại, bất chấp đã có băng gạc. Do đó, một miếng băng co dãn không phải là thứ thay thế cho nẹp, khung đỡ hay hình thức băng bó thích hợp. Có lẽ, chức năng quan trọng nhất của những loại băng gạc này là nhắc chính bạn rằng, bạn có vấn đề và bạn nên tránh làm tổn thương chính mình.

Cách dùng
Khi quấn băng, hãy bắt đầu ở đầu xa nhất của vùng bị thương và băng dần vào phía cơ thể, quấn vòng sau lỏng hơn một chút so với vòng trước. Do đó, phần trục trung tâm của băng ở đầu gối cần chặt ở phía dưới hơn là phía trên, còn băng ở mắt cá thì chặt ở phía bàn chân hơn là trên bụng chân. Nhiều người nghĩ rằng vì băng gạc co dãn nên cần phải kéo căng nó. Như thế là sai. Khả năng kéo căng cho phép ta cử động. Đơn giản là quấn băng giống như quấn một miếng gạc vậy.
Quấn một miếng băng co dãn.
(A) Bắt đầu quấn băng ở cách xa khớp (trong trường hợp này là đầu gối). Đừng kéo căng băng khi bạn quấn. (B) Quấn qua khớp, ban đầu chặt tay, sau đó càng quấn càng nới lỏng dần. Dùng ghim kẹp đi kèm với băng gạc để cố định.
Tiếp tục dùng băng gạc làm vật hỗ trợ cho qua thời kỳ khó chịu để lành hẳn vết thương và giúp tránh tổn thương trở lại; quá trình này thường mất khoảng 6 tuần. Trong nửa sau của quãng thời gian này, bạn có thể ngừng dùng băng gạc, trừ phi trong các hoạt động gây sức ép cho phần cơ thể bị tổn thương. Hãy nhớ rằng các tổn thương vẫn có thể xảy ra khi sử dung băng gác.
Băng gạc loại mới dùng cho phần đầu gối và khuỷu tay có khả năng hỗ trợ tốt hơn, nhưng đắt hơn một chút. Để bảo vệ tốt hơn nữa, loại nẹp gối có khớp nôi kim loại ở hai bên sẽ tốt hơn.

Tác dụng phụ
Loại băng gạc co dãn đơn giản hoặc nẹp gối có thể gây rắc rối khi bó quá chặt. Các vấn đề nảy sinh khi sự lưu thông ở chân bị ảnh hưởng. Băng gạc cần chắc, nhưng không chặt quá. Chân tay không nên để cho sưng tấy, đau đớn hoặc lạnh ngắt do băng gạc. Da cũng không được có màu bầm tím.
            
Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn

THUỐC TẨY MỤN CƠM (MỤN CÓC)

THUỐC TẨY MỤN CƠM (MỤN CÓC)

Mục đích
Tẩy một số loại mụn cơm.
Mụn cơm là một vấn đề kỳ lạ. Cách chúng hình thành và biến mất dẫn tới vô số câu chuyện cùng mọi liệu pháp chữa bệnh tại nhà. Chúng có thể được phẫu thuật loại bỏ, đốt bỏ hoặc làm đông cứng rồi tẩy bỏ, nhưng chúng cũng có thể tự biến mất hoặc sau khi điều trị bằng thôi miên. Mụn cơm do một loại virus gây ra và là một phản ứng trước một tình trạng nhiễm khuẩn cục bộ. Nêu bạn bị mụn cơm, bạn chắc chắn sẽ còn thấy chúng xuất hiện nữa. Khi chúng biến mất, thì những mụn khác cũng biến mất theo. Trường hợp ngoại lệ là các mụn cơm ở bàn chân, chúng không tự biến mất và kể cả khi đã điều trị. Lúc này có thể phải cần đến bác sĩ.
Các loại hóa chất trên thị trường, như Compound W và Wart-Off, khá hiệu quả để điều trị mụn cơm. Chúng có chứa một chất kích thích da. Bằng cách bôi liên tục, chúng sẽ từ từ "tẩy" các lớp trên cùng của mụn cơm, và cuối cùng virus bị diệt.

Liều dùng
Bôi liên tục, theo chỉ dẫn ghi trên nhãn sản phẩm. Cần phải kiên trì.

Tác dụng phụ
Những sản phẩm này rất hiệu quả vì chúng ăn da. Hãy cẩn thận chỉ bôi lên mụn cơm, và rất cẩn trọng khi bôi quanh mắt hoặc miệng.

Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn

CHẤT CHỐNG NẮNG

CHẤT CHỐNG NẮNG

Mục đích
Để chống cháy nắng.
Các bác sĩ da liễu liên tục nhắc nhở chúng ta rằng mặt trời có hại cho da. Phơi nắng làm da chóng lão hóa và tăng cơ hội ung thư da. Mặt khác, những mục quảng cáo lại hết lời ca tụng làn da rám nắng. Với người Mỹ, chúng ta mất nhiều thời gian tuổi trẻ để cố gắng có được một làn da vừa ý và không đếm xỉa gì đến những hậu quả sau đó.
Các chất chống nắng có thể ngăn cháy nắng khi bạn ra nắng. Nếu da bạn nhạy cảm với những tác động của mặt trời, thì cách tốt nhất là không để tiếp xúc với nắng; việc này có thể làm được với một chất chống nắng mạnh như Presun, hoặc bất kỳ loại thuốc có chứa PABA nào với chỉ số chống nắng cao. Chỉ số xếp hạng ghi trên nhãn thuốc là một chỉ dẫn rất tốt về sức cản nắng của các loại thuốc khác nhau. Chỉ số càng cao, sức cản nắng càng tốt. Các loại kem làm rám nắng không phải là những chất chống nắng nên cản được rất ít bức xạ mặt trời.
Thời gian một chất có hiệu quả trên da là rất quan trọng. Thậm chí loại kem mạnh nhất cũng không giúp ích gì sau khi nó đã bị rửa trôi, vì thế hãy tìm những sản phẩm không hòa tan nếu bạn có ý định xuống nước dưới trời nắng.

Liều dùng
Bôi đều lên những vùng da hở theo chỉ dẫn trên nhãn thuốc.

Tác dụng phụ
Hiếm khi gây viêm tấy da và dị ứng.

         Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn



Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013

KEM HYDROCORTISON

KEM HYDROCORTISON

Mục đích
Tạm thời làm dịu ngứa ngáy da do bị sơn ăn hay dính nhựa cây độc.
Các nhãn thuốc có trên thị trường của loại kem hydrocortison gồm CaldeCORT, Cortizone-10, và kem làm dịu ngứa Benadryl. Đây là những loại thuốc chống đau rát cục bộ, rất mạnh. Sử dụng trong thời gian ngắn, những loại kem này an toàn và hầu như không độc. Chúng làm hết nhiều chứng mẩn ngứa nhẹ, nhưng chỉ là "kìm chế*' chứ không phải "điều trị" bệnh.

Liều dùng
Xoa một lượng nhỏ lên chỗ ngứa. Nếu bạn còn nhìn thấy kem trên da, bạn đã dùng quá nhiều. Bôi thường xuyên khi cần, thường là cách 2-4 tiếng một lần.

Tác dụng phụ

Nếu dùng lâu, những loại kem này có thể gây teo da (mỏng lớp da), vì thế hãy dùng hạn chế chỉ trong thời gian 2 tuần. Quá thời gian này, hãy hỏi ý kiến bác sĩ. về mặt lý thuyết, những loại kem này có thể làm cho bệnh nặng thêm, vì thế phải cẩn thận khi dùng chúng, nếu không có thể bị nhiễm bệnh "ngứa". Không sử dụng những loại kem này ở xung quanh mắt, và không được cho vào miệng.

            Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn

THUỐC CHỐNG NẤM

THUỐC CHỐNG NẤM

Mục đích
Để điều trị nấm da, miệng, họng và âm đạo.
Nhiễm nấm da thường không nguy hiểm, vì thế việc điều trị không gấp gấp. Nói chung, nấm cần những khu vực ẩm ướt, ổn định để sinh trưởng và thường sẽ tự mất đi nếu vệ sinh, lau khô và bôi thuốc bột thường xuyên để giữ cho khu vực đó luôn khô ráo. Hãy rửa sạch và lau khô khu vực nhiễm nấm 2 lần mỗi ngày.
Nếu bạn cần một loại thuốc, có rất nhiều thuốc không độc mà lại có hiệu quả. Với bệnh nấm chân, hãy thử dùng một trong các loại kem hoặc bột Undecylenat kẽm, như Desenex. Trong những trường hợp khó khăn, tolnaftat (Tinactin) và clotrimazol (Lotrimin) có tác dụng cho hầu như tất cả các vấn đề nấm da, nhưng chúng đắt tiền hơn.
Miconazol (ví dụ Monistat 7) rất hiệu quả và an toàn cho các bệnh nhiễm nấm (Candida monilia) ở miệng, họng và âm đạo. Nếu bạn không thấy đỡ sau một tuần, hãy tới gặp bác sĩ.

Liều dùng
Với bệnh nấm chân, dùng theo chỉ định trên nhãn thuốc. Với các bệnh về da khác, selen sulifd rất hiệu quả. Thuốc này có sẵn theo đơn ở dạng thuốc nước 2,5%, nhưng cũng có sẵn ngoài thị trường ở dạng thuốc nước 1% như dầu gội Selsun Blue. Hãy dùng dầu gội này như một loại kem và để nó khô trên da; bôi vài lần mỗi ngày để bổ sung.

Tác dụng phụ
Có một vài tác dụng phụ. Selen sulfid có thể làm cháy da nếu dùng quá nhiều, vì thế hãy giảm thuốc nếu bạn thấy viêm tấy. Selen có thể làm mất màu tóc và làm ố quần áo. Hãy rất cẩn thận khi bôi thuốc này quanh mắt. Đừng để thuốc lọt vào miệng.

          Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn


Ô-XÍT KẼM

Ô-XÍT KẼM

Mục đích
Để điều trị bệnh trĩ.
Các loại thuốc bột và kem ô-xít kẽm làm dịu khu vực viêm tây trong khi cơ thể làm lành mạch máu bị viêm. Chúng cũng giúp làm săn chắc phần da ở khu vực bị trĩ để đỡ đau rát hơn. Nhiều người cảm thấy đỡ với Preparation H, Anusol và các thuốc khác, nhưng những loại này ít có lợi thế.

Đọc kỹ nhãn thuốc
Chúng tôi không tán thành việc dùng thuốc kem có chứa những thành phần mang hậu tố "-cain", vì việc dùng nhiều lần những loại thuốc gây tê cục bộ này có thể gây viêm tẩy hơn.

Liều dùng
Dùng khi cần, theo đúng chỉ dẫn. Đừng để vi khuẩn lẫn vào kem; bôi thuốc sau khi tắm và khi đã làm sạch và lau khô thật cẩn thận. Hãy nhớ làm sạch thật kỹ khu vực đó bằng xà phòng và nước mỗi ngày.

Tác dụng phụ
Không có

        
Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn



THUỐC NHỎ MẮT "NƯỚC MẮT NHÂN TẠO"

THUỐC NHỎ MẮT "NƯỚC MẮT NHÂN TẠO"

Mục đích
Để điều trị đau mắt.
Cơ chế nước mắt thường là làm dịu, làm sạch và bôi trơn mắt. Đôi khi, môi trường có thể lấn át cơ chế này, hoặc không có đủ nước mắt. Trong những trường hợp này, mắt trở nên "mỏi mệt", cảm thấy khô hoặc cộm, và có khi ngứa ngáy. Nhiều loại thuốc có thế xử lý vấn đề này.
Có hai loại thuốc mắt chính. Một loại có chứa những hợp chất làm dịu mắt (Murine, Prefrin). Ngoài ra còn có chất thông mũi để làm co mạch máu và do đó làm mắt "vằn đỏ" (Visine, Murine Plus, Visine LR). Khả năng làm dịu của những loại thuốc này vần là vấn đề gây tranh cãi. Việc sử dụng các chất thông mũi để làm giảm tình trạng đỏ mắt hoàn toàn chỉ là để tô điểm. Thậm chí, những thuốc như thế còn ảnh hưởng đến quá trình khỏi bệnh thông thường, cho nên chúng tôi không khuyến nghị sử dụng chúng.
Loại thuốc thứ hai không có tác dụng làm dịu đặc biệt và không chứa các chất thông mũi. Mục đích của chúng chỉ là "bôi trơn" mắt hay có chức năng như "nước mắt nhân tạo". Đây là những dung dịch hóa chất tương tự như dung dịch của cơ thể, để không cho hiện tượng viêm tấy xảy ra. Các bác sĩ nhãn khoa thích những loại thuốc như vậy để điều trị chứng đau mắt nhẹ. Murine Lubricating Eyedrops là một ví dụ.

Liều dùng
Thường xuyên sử dụng khi cần với liều lượng như yêu cầu. Bạn không thể sử dụng quá nhiều mặc dù thường vài giọt có tác dụng làm dịu bằng cả chai thuốc. Nếu bạn bị khô mắt thường xuyên hãy hỏi ý kiến bác sĩ vì hiện tượng này có thể báo hiệu một vấn đề tiềm ẩn khác. Thường thì triệu trứng khô mắt chỉ kéo dài vài giờ và giảm dần. Nắng quá, gió quá hoặc bụi bặm thường gây ra hiện tượng đau mắt nhẹ.

Tác dụng phụ
Không có tác dụng phụ nghiêm trọng nào. Visine và các loại thuốc khác có chứa chất thông mũi hơi rát một chút.
Không có thuốc nào trong số này điều trị được các bệnh nhiễm trùng hoặc tổn thương mắt hoặc loại bỏ được dị vật ra khỏi mắt.

Thuốc nhỏ mắt
Nhẹ nhàng kéo mí mắt dưới xuống. Nhả dung dịch vào bụng mắt chứ không phải vào nhãn cẩu. Chơp chớp mắt vài lần.

         Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn

FLUORIDE NATRI

FLUORIDE NATRI

Mục đích
Để bảo vệ răng khỏi bị sâu.
Hãy chăm sóc răng của bạn, đó là bộ phận giúp bạn nhai. Có một bằng chứng rất rõ là những biện pháp phòng ngừa có thể bảo vệ răng. Hãy đánh răng bằng loại kem có chứa fluorid theo đúng chỉ dẫn của nha sĩ. Nhiều bác sĩ cho rằng việc làm sạch răng hằng ngày bằng chỉ là cách quan trọng nhất để ngăn ngừa sâu răng. Người lớn rụng răng thường là do hình thành cao răng, các bệnh về lợi, và hỏng xương. Loại ống phun nước (chẳng hạn Water Pik) giúp loại bỏ thức ăn bám ở kẽ răng, nhưng không hiệu quả bằng cách dùng chỉ làm sạch răng.
Đánh răng bằng chỉ.
Quấn sợi chỉ quanh hai ngón tay giữa. Dùng ngón chỏ của bạn để gài sợi chỉ vào kẽ răng. Cách này bạn không cần quấn sợi chỉ chặt lắm. Cọ sợi chỉ lên xuống trên bề mặt răng.

BỔ SUNG FLUORID NATRI
Nếu bạn uống nước có chứa fluorid, lượng fluorid vào cơ thể bạn sẽ đủ và bạn không cần bổ sung vào bữa ăn của mình. Nước ngầm ở nhiều khu vực đã có chứa fluorid tự nhiên. Hãy thử xem nước của bạn có chứa fluorid không. Nếu nước chưa có fluorid, bạn cần bổ sung fluorid vào bữa ăn của con bạn. Tất cả đều đồng ý rằng fluorid rất cần cho trẻ qua độ tuổi lên 10, và có thể còn lâu hơn. Người lớn có lẽ không đòi hỏi phải có fluorid trong bữa ăn, mặc dù bôi răng bằng kem fluorid natri khá hữu ích, giống như sử dụng một loại kem đánh răng có chứa fluorid. Fluorid rất hiệu quả trong việc ngừa sâu răng cho mọi lứa tuổi. Hãy ủng hộ sở y tế nơi bạn sống trong việc bổ sung fluorid vào nước. Những người hoặc tổ chức phản đối việc bổ sung fluorid tức là không nhận thức được cơ sở khoa học của việc ủng hộ này.

Liều dùng
Khi nguồn nước chưa được xử lý, hãy mua một chai to các viên fluo­ride natri. Hầu hết các viên này là loại 2,2 mg và có chứa 2 mg fluorid; còn lại là đường hòa tan.
Nếu nguồn nước có hàm lượng fluorid thấp, trẻ em dưới 3 tuổi cần xấp xỉ 0,25 mg mỗi ngày, từ 3-6 tuổi cần 0,5 mg, và từ 6-10 tuổi cần 1 mg. Với nước đã được bổ sung fluorid một phần, hãy kiểm tra liều lượng dùng qua nha sĩ. Có thể nhai hoặc nuốt các viên fluorid này. Cũng có thể uống kèm với sữa mà không làm thay đổi mùi vị. Trong trường hợp chỉ mua được fluorid theo đơn, thì hãy xin đơn thuốc ấy từ bác sĩ hoặc nha sĩ khi đến khám định kỳ.

Tác dụng phụ
Quá nhiều fluorid sẽ làm ố răng (tạo ra những đốm màu xám) và không hề làm răng khỏe thêm chút nào, vì thế đừng dùng quá liều quy định. Với liều chỉ định, sẽ không có những tác dụng phụ; fluorid là một khoáng chất tự nhiên có trong nhiều nguồn nước tự nhiên.

Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn


CÁC LOẠI THUỐC TIÊU CHẢY

CÁC LOẠI THUỐC TIÊU CHẢY

Mục đích
Để điều trị tiêu chảy.
Với hiện tượng phân lỏng bất chợt, không cần thiết phải dùng thuốc. Một chế độ ăn có chất lỏng (ví dụ nước hoặc nước gừng) là phương thuốc đầu tiên trị bất kỳ hiện tượng tiêu chảy nào: nó giúp ổn định đường ruột và bổ sung cho lượng nước bị mất. Nếu vẫn đi ngoài, những sản phẩm có loperamid hoặc bismuth rất hữu dụng.
Nếu những thuốc này không trị được tiêu chảy, có thể dùng các loại thuốc mạnh hơn chứa những chất như paregoric. Tiêu chảy nặng hoặc kéo dài có thể cần phải có sự giúp đỡ của bác sĩ và điều trị bằng kháng sinh.
Để phòng hoặc điều trị "tào tháo đuổi", tốt hơn cả là sử dụng thuốc kháng sinh, chẳng hạn tetra­cyclic ,doxycyclin, hoặc những loại khác, thay vì uống những loại thuốc tạm cầm như Lomotil. Hãy hỏi ý kiến bác sĩ trước khi đi lấy đơn thuốc. Đôi khi, bạn chỉ cần thực hiện việc này qua điện thoại. Một số bác sĩ cho rằng bạn bắt đầu dùng kháng sinh ngay từ đầu. Chúng tôi lại nghĩ tốt hơn là nên mang theo thuốc và bắt đầu điều trị nếu bạn đi phân lỏng.


LOPERAMID
Nói chung loperamid thay thế được cho những loại thuốc khác bán tự do trên thị trường với tác dụng ổn định đường ruột và giảm lượng phân. Không nên dùng cho trẻ em.

Liều dùng
Hãy theo đúng chỉ dẫn ghi trên nhãn thuốc. Thường bạn sẽ bắt đầu uống 2 viên và uống bổ sung nếu không thấy đỡ.

Tác dụng phụ
Nếu dùng quá liều, loperamid có thể gây táo bón. Những tác dụng phụ hiếm gặp là khô miệng, chóng mặt, uể oải và nôn mửa.

Bismuth subsalicyclat (pepto-bismol, kaopectate)

Liều dùng
Theo đúng chỉ dẫn. Với trẻ em dưới 3 tuổi, hãy hỏi bác sĩ.

Tác dụng phụ
Bismuth có thể gây ra chứng nám lưỡi vô hại tạm thời hoặc làm phân bị đen.

            Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn

THUỐC NHUẬN TRÀNG

THUỐC NHUẬN TRÀNG

Mục đích
Để điều trị táo bón. Chúng tôi khuyên bạn duy trì chế độ ăn, với chất bã sợi rau tự nhiên, hơn là sử dụng thuốc nhuận tràng. Nhưng nếu bạn phải dùng thuốc nhuận tràng, giải pháp thay thế tốt nhất là cây mã đề bọ chét với tư cách một loại thuốc nhuận tràng tiêu hóa nhằm giữ nước trong ruột và làm mềm phân.
Metamucil, FiberCon, và những thuốc tương tự có chứa các chất tinh chế từ hạt mã đề bọ chét. Chúng có thể có tác dụng cả với chứng tiêu chảy lẫn táo bón. Mã đề bọ chét hút nước vào phân, tạo thành một hỗn hợp quánh, và do dó cung cấp chất xơ. Nó không bị đường tiêu hóa hấp thu; nó chỉ đi qua mà thôi. Vì thế, đây là một sản phẩm tự nhiên và quan trọng là không có tác dụng phụ. Tuy nhiên, nó không phải lúc nào cũng có tác dụng. Có thể thu được tác dụng tương tự bằng cách ăn đủ cần tây.

Liều dùng
Liều dùng điển hình là một thìa cà phê (5 ml) khuấy đều trong một ly nước và uống 2 lần mỗi ngày. Nên uống thêm ly nước thứ hai hoặc nước hoa quả. Mã đề bọ chét cũng có sẵn dưới dạng các túi liều riêng lẻ có giá đắt hơn để dùng khi bạn không có thìa để đong. Các loại thuốc sủi hòa tan nhanh hơn một chút và có vị ngon hơn đối với một số người.

Tác dụng phụ
Nếu bạn uống một loại thuốc nhuận tràng chất xơ mà không uống đủ nước thì hỗn hợp quánh tạo thành có thể đọng lại trong thực quản (phần đường Ống dẫn từ miệng xuống dạ dày). Uống đủ chất.lỏng sẽ ngăn được vấn đề này.

Có các loại thuốc nhuận tràng khác không tự nhiên bằng. Những thuốc này gồm cả các chất làm mềm phân như Colace, Dialose, và Doxidan; các chất kích thích ruột như Corectol, Ex-lax, cà phê, và sữa magiê carbonat; và chất dự trữ truyền thống trong gia đình là dầu khoáng. Tất cả đều an toàn nếu sử dụng vừa phải, nhưng cũng có thể dẫn tới "thói quen nhuận tràng", trong đó chúng trở nên cần thiết cho các nhu động tốt của đường ruột.

Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn

Thứ Tư, 17 tháng 7, 2013

DEXTROMETHORPHAN (DM)

DEXtromethorphan (dm)
Robitussin-DM, Triaminic-DM, Vicks Công thức 44, và những loại thuốc khác có chứa dextromethor­phan, một dược chất "làm dịu trung tâm cơn ho". Dược chất này làm cho vùng não bộ kiểm soát cơn ho bớt nhạy cảm trước những kích thích gây ho. Bạn sử dụng nhiều bao nhiêu không thành vấn đề, nó hiếm khi làm giảm ho quá 50%. Do đó, bạn thường không thể trị dứt điểm cơn ho. Trên thực tế, điều này tốt cho bạn, vì cơn ho là một phản xạ tự vệ của cơ thể. Dextromethorphan sử dụng hiệu quả nhất với các chứng ho khan gây mất ngủ và không thể làm việc.

Liều dùng
Xem hướng dẫn trên nhãn thuốc. Người lớn có thể tăng gấp đôi liều dùng khuyến nghị để đạt hiệu quả, nhưng đừng vượt quá số lượng này. Liều dùng cao hơn có thể gây ra vấn đề, chứ không có lợi.

Tác dụng phụ
Chứng uể oải là phản ứng phụ duy nhất thường được nói tới.
Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn

Thứ Hai, 15 tháng 7, 2013

GUAIFENSIN

GUAIFENSIN
          Guaifenesin hút thêm chất lỏng thành nước nhầy sinh ra ho. Do đó, thuốc ho hóa lỏng những chất thải nhầy này để có thể ho khạc ra. Cơn ho sinh ra dễ dàng hơn và ít rát họng hơn. Với chứng ho khan sau khi cảm lạnh, chất làm nhờn thường làm dịu vùng viêm tấy. Guaifenesin không làm phản xạ giảm ho, nhưng khuyến khích các cơ chế phòng vệ tự nhiên của cơ  thể. Hiệu quả của nó vẫn còn nhiều tranh cãi, nhưng nó có vẻ an toàn. Nó không mạnh như các thuốc có chứa codein, nhưng chúng tôi lại ưa dùng nó hơn là các loại thuốc kê theo đơn. Hạt tiêu và tỏi, thường không được coi là thuốc, lại có những tác dụng tương tự.

Đọc kỹ nhăn thuốc
Guaifenesin cũng có sẵn dưới dạng kết hợp với các thuốc thông mũi và giảm ho; các thuốc thông mũi có thể có hậu tố "-PE" để chỉ "phenylephrin" và các thuốc giảm ho là "-DM" tức "dex­tromethorphan".

Liều dùng
Hãy theo đúng hướng dẫn trên nhãn thuốc. Hãy gọi cho bác sĩ nếu bạn có con dưới Ì tuổi bi ốm và ho.

Tác dụng phụ

Không thấy có những vấn đề nghiêm trọng. Nếu bạn sử dụng những loại thuốc chứa các dược chất khác, bạn có thể cảm thấy những tác dụng phụ từ những thành phần khác của thuốc.

Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn

XI-RÔ HO


XI-RÔ HO

Mục đích
Thuốc chữa ho là một lĩnh vực khó hiểu với rất nhiều sản phẩm để ta lựa chọn. Để đơn giản vấn đề, xin hãy nghiên cứu hai loại chính:
§        Thuốc long đờm thường được chuộng hơn, vì chúng giúp hóa lỏng chất bài tiết mà cơ thể sinh ra trong khi chống chọi với bệnh tật và cho phép các cơ quan bảo vệ của cơ thể loại bỏ chất độc hại bằng cách ho khạc nó ra một cách dễ dàng.
§        Thuốc giảm ho nên tránh dùng nếu chứng ho sinh ra bất cứ chất gì hoặc nếu có nhiều nước nhầy. Trong các giai đoạn sau của bệnh ho, khi chất tiết đã khô và ho khan, các hợp chất có chứa thuốc giảm ho có thể khá hữu ích.
Chúng tôi thiên về những thuốc ho không chứa chất kháng histamin, thường làm khô nước nhầy và vừa có hại lại vừa có lợi.

Đọc kỹ nhãn thuốc
Guaifenesin  (Robitussin, thuốc long đơm Benylin, Vicks vv...), kali iod, và một vài hóa chất thường dùng khác gây ra tác dụng long đơm.
Tác dụng giảm ho cơ bản là nhờ các chất gây ngủ, như codein. Các thuốc giảm ho trên thị trường có thể không chứa codein. Chúng thường chứa dextromethorphan hydrobromid (DM) vốn không phải là chất gây ngủ, nhưng là một hóa chất "họ hàng" gần gũi.
Nhiều thuốc thương phẩm có chứa mỗi thứ một ít và có thể có một số thành phần của thuốc cảm lạnh.
Chúng tôi sẽ thảo luận về guaifenesin (Robitussin, thuốc long đơm Benylin, Vicks ...) và dex­tromethorphan (Vicks Công thức 44, Robitussin-DM vv...); hãy theo đúng hướng dẫn trên nhãn thuốc đối với các chất khác.

            Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn


THUỐC CẢM DẠNG VIÊN


THUỐC CẢM DẠNG VIÊN

Mục đích
Làm giảm một số triệu chứng cảm lạnh và cúm.
Coricidin, Actifed, Triaminic, Contac, Dimetapp, và hàng chục loại sản phẩm khác được quảng cáo là có tác dụng chống bệnh cảm lạnh thông thường. Thật ngạc nhiên là nhiều loại có tác dụng giảm triệu chứng rất tốt. Chúng tôi không nghĩ rằng những hợp chất này hỗ trợ thêm nhiều cho việc điều trị thông thường bằng aceta­minophen và các chất dịch, nhưng một số người lại tin ngược lại. Chúng tôi không ngăn cản việc dùng những loại thuốc này trong thời kỳ ngắn.
Những hợp chất này thường có 3 thành phần cơ bản. Quan trọng nhất là một chất làm giảm sốt và đau: acetaminophen, aspirin, hoặc ibuprofen. Thêm vào đó, những thuốc này còn chứa một dược chất thông mũi để làm co các màng nhầy bị sưng và các mạch máu nhỏ. Thành phần cuối cùng là một chất kháng histamin để ngăn chặn dị ứng hoặc làm khô nước nhầy.

Đọc kỹ nhãn thuốc
Chất thông mũi thường là pseu-doephedrin hoặc phenyl-propanolamin. Nếu không, hậu tố "-ephrin" hoặc "-edrin" thường cho biết thành phần này trong thuốc. Chất kháng histamin thường là chlorpheniramin (CholorTrimeton) hoặc diphenhydramin. Nếu không, chất kháng histamin thường xác định được (nhưng không phải lúc nào cũng vậy) trên nhãn thuốc nhờ hậu tố "-amin".
Đôi khi, "belladonna alkaloid" được thêm vào những hợp chất này để tăng cường các hoạt tính khác và làm giảm co thắt dạ dày. Với liều lượng thấp, một dược chất như vậy ít có ảnh hưởng. Nó được gọi tên là "scopolamin", "belladonna" hoặc gì đó tương tự. Những thành phần khác có thể thống kê cũng có tác dụng chút ít. Không nên dùng những sản phẩm có chứa caffein nếu bạn có vấn đề về tim hoặc mắc chứng khó ngủ. Những sản phẩm này là hình thức "kết hợp nhiều thành phần".
Từng dược chất đơn lẻ thích hợp hơn là sự kết hợp của các dược chất với nhau. Nhờ thế, bạn có thể lựa chọn tốt hơn trong việc điều trị các triệu chứng, và do đó ít phải dùng thuốc hơn. Các thành phần trong những sản phẩm kết hợp khá sẵn ở dạng riêng lẻ, và những sản phẩm riêng lẻ này có thể dùng như các loại thuốc thay thế. Chẳng hạn, thành phần chính trong những sản phẩm kết hợp thường là aspirin hoặc acetaminophen. Pseudoephedrin là một chất thông mũi rất tốt và có bán-sẵn trên thị trường dưới dạng thuốc viên 30 và 60 mg. Chlorpheniramin, một chất kháng histamin, cũng rất sẩn trên thị trường ở dạng tiêu chuẩn 4 mg. Khi có thể, hãy cân nhắc việc dùng trực tiếp thuốc tại khu vực bị ảnh hưởng, chẳng hạn dùng thuốc nhỏ hoặc xịt mũi khi bị sổ mũi.
Cuối cùng, cần lưu ý rằng những loại thuốc cảm lạnh phổ biến (Sudafed, Actifed, Dimetapp) thực sự là những công thức tập trung hơn và đắt tiền của cùng các loại dược chất có sẵn trên thị trường (thường cùng tên gọi). Có nên mất thời gian tới gặp bác sĩ chỉ vì những loại thuốc ấy không?

Liều dùng
Hãy thử liều dùng như được khuyến nghị. Nếu bạn cảm thấy không hiệu nghiệm, bạn có thể tăng thêm nửa liều dùng. Đừng tăng gấp đôi liều dùng được khuyến nghị. Hãy nhớ rằng bạn đang cố gắng cân bằng giữa những tác dụng mong muốn và những tác dụng phụ. Việc tăng liều làm tăng những tác dụng có lợi, nhưng nó cũng làm tăng khả năng dẫn tới những tác dụng phụ.

Tác dụng phụ
Thuốc làm cho người này buồn ngủ có khi lại làm cho người khác tỉnh táo. Những tác dụng phụ thường thấy nhất của thuốc viên cảm lạnh là hiện tượng uể oải hoặc bồn chồn. uể oải thường do thành phần kháng histamin, còn chúng mất ngủ hoặc bồn chồn là do thành phần thông mũi. Bạn có thể thử hợp chất khác chứa ít hoặc không chứa. hóa chất khó chịu, hoặc bạn có thể giảm bớt liều dùng. Không có những tác dụng phụ nghiêm trọng; nguy hiểm nhất là hiện tượng uể oải nếu như bạn có ý định lái xe hoặc vận hành máy móc. Trong những trường hợp hiếm hoi, thành phần "belladonna" sẽ gây khô miệng, mờ mắt, hoặc bí tiểu tiện. Bạn có thể trải qua những tác dụng phụ thông thường của aspirin như rối loạn dạ dày, ong ong trong tai, hoặc xuất huyết dạ dày.

Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn


THUỐC NHỎ VÀ XỊT MŨI


THUỐC NHỎ VÀ XỊT MŨI

Mục đích
Điều trị sổ mũi.
Sổ mũi thường là triệu chúng tồi tệ nhất của cảm lanh hoặc dị ứng. Vì tình trạng này rất phổ biến, nên thuốc điều trị thường sẵn và có nhiều loại được quảng cáo là làm giảm chảy nước mũi như: Afrin, Neo-Synephrine, Vicks, Sinarest, và những loại thuốc nhỏ hoặc xịt khác.
Thành phần hoạt tính trong những hợp chất này là một loại thuốc thông mũi, thường là ephedrin hoặc phenylephrin. Những loại thuốc này mang tính "cục bộ", nghĩa là bạn dùng chúng trực tiếp lên mô bị viêm. Sau đó, bạn có thể cảm thấy các màng nhầy co lại, và sẽ thấy giảm hẳn chảy nước mũi. Tuy nhiên, có một số vấn đề liên quan đến việc dùng những hợp chất này.
Trở ngại chính là tình trạng đỡ bệnh chỉ là tạm thời. Thường thì các triệu chứng xuất hiện lại trong vài giờ, cho nên bạn phải tiếp tục dùng thuốc. Việc này không sao trong thời gian ngắn. Nhưng những thuốc này có tác dụng làm cho cơ ở thành mạch máu co lại, làm giảm lưu thông máu, và sau nhiều lần dùng thuốc, những cơ rất nhỏ này trở nên mỏi và không có khả năng phản ứng. Cuối cùng, chúng mới đến mức rã rời hoàn toàn, và tình hình trở nên tồi tệ hơn lúc mối đầu. Về mặt y học, hiện tượng này gọi là "giãn mạch hồi ứng" và có thể xảy ra nếu bạn sử dụng những thuốc này liên tục trong 3 ngày hoặc nhiều hơn. Nhiều bệnh nhân cho rằng những triệu chứng gia tăng này đồng nghĩa với việc cần thêm thuốc, nhưng như thế chỉ làm cho vấn đề thêm tồi tệ. Do đó, hãy dùng thuốc nhỏ và xịt mũi chỉ 3 ngày mỗi lần. Sau khi nghỉ vài ngày, bạn có thể sử dụng lại thêm 3 ngày nữa.

Liều dùng
Những thuốc này hầu như luôn bị dùng sai quy cách. Nếu bạn không để thuốc tiếp xúc với các màng nhầy bị sưng lên ở bề mặt bên trong mũi, bạn sẽ không thu được hiệu quả mong muốn. Nếu bạn có thể nếm thấy vị thuốc, bạn đã để thuốc vào sai chỗ. Nhỏ một lượng nhỏ vào một bên mũi trong khi nằm nghiêng vài phút để thuốc thấm vào các màng nhầy. Sau đó nhỏ thuốc vào lỗ mũi bên kia trong khi nằm nghiêng về phía đó  Nhỏ 4 lần mỗi ngày nếu cần, nhưng đừng dùng thuốc quá 3 ngày mà không nghỉ.

Tác dụng phụ
Giãn mạch hồi ứng do dùng thuốc kéo dài là vấn đề chung nhất. Nếu bạn dùng các thuốc này không đúng cách và nuốt một lượng lớn thuốc, bạn có thế thấy tim đập nhanh và cảm giác khó chịu. Hiệu ứng làm khô của thuốc có thể dẫn đến sung huyết mũi.
Cố gắng tránh các chất bạn bị dị ứng thay vì điều trị hậu quả của việc dùng thuốc quá nhiều. Thường thì những biện pháp đơn giản như thay đổi thiết bị lọc, sử dụng bình xịt hoặc dùng một máy điều hòa không khí dể lọc không khí sẽ cải thiện được các triệu chứng dị ứng.

Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn



Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013

THUỐC DỊ ỨNG: KHÁNG HIS-TAMIN VÀ THUỐC THÔNG MŨI


THUỐC DỊ ỨNG: KHÁNG HIS-TAMIN VÀ THUỐC THÔNG MŨI

Mục đích
Điều trị các triệu chứng dị ứng; những chất này có thể làm giảm mẩn ngứa.
Allerest, Chlor-Trimeton, Sinarest, Actifed, Allegra, Claritin, Benadryl, Sudafed, và Dimetapp nằm trong số rất nhiều loại thuốc trên thị trường dùng để điều trị các triệu chứng dị ứng nhẹ. Chúng tương tự như các hợp chất chống cảm lạnh , nhưng chúng thường ít khi có chứa các chất giảm đau và sốt như aspirin, acetaminophen, naproxen, ibuprofen hoặc ketoprofen. Thường thì những hợp chất thuốc này có chứa một chất kháng histamin và một chất thông mũi, và đôi khi cả acetaminophen. Những thành phần này có thể xác định được trên nhãn thuốc. Nếu bạn thích nghi với một trong những loại thuốc này và thấy đỡ, bạn có thể tiếp tục dùng trong vài tuần (chẳng hạn, qua mùa sốt vụ hè) mà không cần tới gặp bác sĩ. Tuy nhiên, các chất thông mũi dạng nhỏ hoặc xịt qua mũi cần được dùng thận trọng và chỉ trong thời gian ngắn.

Đọc kỹ nhãn thuốc
Chất thông mũi thường là pseu-doephedrin hoặc phenyl-propanolamin. Nếu tên hợp chất không quen, thì hậu tố "-ephrin" hoặc "-edrin" thường chứng tỏ là chất thông mũi. Chất kháng hista-min thường là chlorpheniramin, diphenhydramin, hoặc brompheni-ramin. Nếu không, chất kháng his-tamin có thể xác định được trên nhãn thuốc với hậu tố "-amin".

Liều dùng
Sử dụng theo chỉ dẫn của sản phẩm. Giảm liều dùng nếu bạn thấy có tác dụng phụ, hoặc thử hợp chất khác.

Tác dụng phụ
Những tác dụng phụ này thường không đáng kể và sẽ mất đi sau khi dừng sử dụng thuốc hoặc giảm liều. Khó chịu và mất ngủ thường chứng tỏ dùng quá nhiều chất thông mũi. Buồn ngủ thường là do quá nhiều chất kháng histamin. Nếu bạn có thể tránh được những chất mà bạn bị dị ứng, thì việc dùng thuốc là rất tốt. Ớ một mức độ nào đó, các thuốc đều làm suy yếu các chức năng của bạn. Tuy nhiên, những chất kháng histamin "không gây buồn ngủ" mới hơn, như Allegra hoặc Claritin, ít gây buồn ngủ và là một sự tiến bộ trong điều trị. Hãy lưu ý đến những thuốc này, đặc biệt nếu bạn đang lái xe hoặc dùng các thiết bị nặng.
                                                                        
Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn


Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2013

XI-RÔ IPECAC

XI-RÔ IPECAC

Mục đích
Để kích thích nôn mửa nếu có người bị ngộ độc thực phẩm hoặc thuốc. Nôn mửa sẽ làm dạ dày không còn chứa chất độc vốn chưa ngấm kịp. Xi-rô ipecac đặc biệt có ích nêu bạn có trẻ nhỏ.
Không dùng ipecac hoặc chất tương tự để kích thích nôn mửa nếu như chất độc nuốt phải là một hợp chất có nguồn gốc dầu mỏ hoặc một axít hay kiềm mạnh. Hãy gọi ngay Trung tâm Kiểm soát Chất độc.
Tốt hơn cả là cất các hóa chất độc ở xa tầm tay trẻ em thay vì phải sử dụng ipecac. Khi bạn mua ipecac, hãy dùng nó như một thứ nhắc bạn nhớ kiểm tra các chất độc mà trẻ có thể lấy được và chuyển tới nơi an toàn. Nếu con bạn nuốt phải thứ gì đó, càng làm sạch dạ dày sớm thì vấn đề càng đỡ, trừ những ngoại lệ kể trên. Không có thời gian để mua ipecac sau khi con bạn đã nuốt phải chất độc, do đó bạn nên trữ sẵn phòng khi cần dùng đến.

Liều dùng
Một thìa canh (15 ml) ipecac có thể là đủ cho một trẻ nhỏ; 2 đến 4 thìa cà phê (10-20 ml) là mức cần thiết cho trẻ lớn hơn và người lớn. Theo đúng liều dùng cùng với nước ấm, cho tới khi nôn ra. Hãy tiếp tục liều dùng sau 15 phút nếu bạn không thấy có kết quả gì.

Tác dụng phụ
Đây là một loại thuốc rất khó chịu, nhưng không nguy hiểm trừ khi tình trạng nôn mửa làm cho chất độc chui vào khí quản dẫn xuồng phổi. Điều này có thể gây viêm phổi, vì thế đừng kích thích nôn mửa đối với nạn nhân bị bất tỉnh hoặc gần bất tỉnh. Không kích thích nôn mửa đối với các chất dễ bay hơi, chẳng hạn các hợp chất dầu mỏ vì có thể xộc xuống phổi và gây hại. Chúng tôi tin rằng đây có thể là một loại thuốc quan trọng, và thậm chí có tác dụng cứu mạng trong một số trường hợp. Tuy nhiên, không phải bác sĩ nào cũng đồng ý như vậy, vì thế hãy tham khảo ý kiến bác sĩ về những nguy cơ cùng lợi ích của nó.
                                                                       
Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn



KEM BÔI DA VÀ DUNG DỊCH LÀM ẨM DA

Kem bôi da và dung dỊch lÀm Ẩm da
Người ta ít nói về những vật liệu nhân tạo - chẳng hạn Lubriderm, Vaselin, Alpha-Keri - dùng bôi lên da nhằm tạm thời cải thiện vẻ ngoài của da hoặc làm chậm quá trình lão hóa da. Nhiều khẳng định về các sản phẩm như thế không hề có cơ sở khoa học và những lợi ích lâu dài không được chứng minh.
Nhiều khi trên thực tế da khô có thể gây ra các triệu chứng, do đó trở thành một vấn đề y học. Hãy nhớ rằng tắm hoặc tiếp xúc với chất tẩy có thể càng làm da khô. Giảm tần suất tắm, đeo găng khi làm việc với các chất tẩy, và những biện pháp tương tự khác quan trọng hơn là sử dụng bất kỳ kem hoặc thuốc bôi da nào.

Các loại kem và dung dịch làm ẩm da có thể làm da bạn cảm thấy dễ chịu hơn; đây là tác dụng "làm dịu". Hãy sử dụng những loại kem có thương hiệu. Chúng không có tác dụng phụ, ngoại trừ một vài trường hợp hiếm hoi bị dị ứng với lanolin trong một vài sản phẩm.
                                                                                              
Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn

THUỐC GIẢM ĐAU NGOÀI DA

THUỐC GIẢM ĐAU NGOÀI DA
Soda (bicarbonat natri,NaHC03) là một hóa chất hữu ích trong gia đình. Nó có 3 công dụng y học cơ bản:
§        Là một dung dịch yếu, có tác dụng làm dịu da hoặc giảm ngứa; do đó, nó rất có ích với nhiều trường hợp từ cháy nắng, sơn ăn ,thủy đậu (Đây là công dụng chúng tôi nói đến ở đây).
§        Là một dung dịch mạnh, nó hút chất dịch và giảm sưng tấy vết thương, đồng thời ngâm và làm sạch vết thương.
§        Nếu uống qua miệng, nó có tác dụng như chất giảm độ chua dạ dày và có thể giúp giảm ợ nóng hoặc rối loạn dạ dày. Vì natri trong sođa hấp thụ vào cơ thể, nên chúng tôi khuyến nghị dùng loại thuốc giảm độ chua khác.

Liều dùng
Để làm dịu da, hãy dùng từ 2 thìa canh đến nửa cốc (30-120 ml) pha với nước nóng để tắm. Thấm da nhẹ nhàng sau khi tắm và để cho dung dịch khô dần trên da. Đều đặn làm như vậy khi cần thiết.

Tác dụng phụ
Không có ảnh hưởng gì chừng nào chỉ để soda ở ngoài da.
         
Nhà thuốc Sơn Trường 
luôn mang lại niềm tin cho bạn